CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HUYẾT HỌC, SINH HOÁ BỆNH BỆNH HODQKIN

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HUYẾT HỌC, SINH HOÁ

Huyết học

Công thức máu

Xét nghiêm tế bào máu để xem sự thay đổi về số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết sắc tố. Trong bệnh Hodgkin giai đoạn muộn có thể thấy thiếu máu, giảm tiểu cầu khi bệnh xâm lấn vào tủy xương, lúc này trong công thức bạch cầu thấy tăng bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đa nhân ái toan, giảm lymphocyt. Có thể thấy sự có mặt của những tế bào ác tính bất thường ở máu ngoại vi.

Tham khảo thêm

Thuốc đích điều trị ung thư phổi

Thuốc điều trị ung thư phổi tốt nhất

Tủy đồ

Số lượng tế bào tủy bình thường dao động từ 20 đến 150 G/l. Số lượng này còn phụ thuộc vào người làm nên ít có giá trị. Trong bệnh Hodgkin chủ yếu quan tâm đến công thức tủy xương, để chẩn đoán phân biệt với các bệnh máu ác tính khác như bạch cầu cấp, mãn, đa u tủy.

Sinh thiết tủy xương

Sinh thiết tủy xương được khuyến cáo chỉ định cho Hodgkin giai đoạn muộn. Có thể thấy tế bào Hodgkin điển hình hoặc các thành phần tế bào bất thưòng khác trên bệnh phâm. Đôi khi phương pháp này cho ra kết quả âm tính, giả vì có thể tổn thương tủy xương lại không nằm ở vị trí chọc. Ngày nay ở các nước tiên tiến người ta sử dụng PET hoặc chụp cộng hưởng từ để phát hiện tổn thương của tủy xương một ổ hay đa ổ và ở mọi ví trí của cơ thể.

Tốc độ lắng máu

Tốc độ lắng máu chịu ảnh hưởng của nồng độ protein trong huyết tương, số lượng và chất lượng hồng cầu. Phương pháp Westergreen hay được dùng nhất với trị số bình thường sau mỗi giờ từ 5-10mm. Tốc độ máu lắng tăng bệnh lý trong thấp khớp cấp tính, lao đang tiến triển, UT… Trong u lymphô ác tính, tốc độ máu lắng tăng cao không có giá trị chẩn đoán mà chỉ mang tính tiên lượng xấu.

​​​​​​​Hoá sinh

Thường ít khi men Transamin tăng khi có tổn thương gan trong bệnh Hodgkin. Chỉ khi có hạch to chèn ép vùng rốn gan có thể làm tăng Bilirubin do ứ mật hay khi có hạch chèn ép vào niệu quản có thể gây suy thận, làm tăng creatinin máu. Các xét nghiệm này chủ yếu được theo dõi trong quá trình hóa trị để đánh giá độc tính của thuốc.

​​​​​​​Xét nghiệm các dịch

  • Dịch não tủy: Trong bệnh Hodgkin chủ yếu quan tâm đến công thức tế bào của dịch não tủy, có thể thấy tế bào ác tính bất thường trong trường hợp bệnh xâm lấn đến hệ thần kinh trung ương.
  • Dịch các màng: Khi bệnh nhân có tràn dịch màng phổi, màng tim, màng tinh hoàn hay dịch cổ chướng cũng cần xét nghiệm. Trong trường hợp tràn dịch do bệnh lý thấy có tăng lymphô và có thể thấy tế bào ác tính khi soi tươi hay sau khi nhuộm trong dịch chọc dò.

CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN BỆNH

Hai phân loại giai đoạn được sử dụng rộng rãi đối với bệnh Hodgkin là phân loại theo Ann-Arbor và Cotswold.

​​​​​​​Phân loại theo Ann-Arbor

Ra đời năm 1970 tại hội nghị quốc tế Ann Arbor chia bệnh Hodgkin ra 4 giai đoạn lấy cơ hoành làm ranh giới. Theo xếp loại của Ann Arbor, khi bệnh lan tràn từ 1 chuỗi hạch đến cơ quan nào đó ngoài hạch không bị coi là bệnh ở giai đoạn muộn, mà được thêm từ E (Extra node) để chỉ cơ quan ngoài hạch đó. Tổn thương lách được viết tắt là S (Spleen). Ann-Arbor còn thêm triệu chứng A, hay B để chỉ sự có mặt của các triệu chứng toàn thân. Cũng tại hội nghị này triệu chứng “ngứa” không được coi là triệu chứng B vì nó không phải là yếu tô’ ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Phân loại của Ann Arbor đã được sử dụng trong hơn 20 năm.

Bảng 1. Hộ thống xếp giai đoạn theo Ann Abor

            Giai đoạn                   Mô tả                        

I           Tổn thương 1 vùng hạch duy nhất hoặc 1 cơ quan hay 1 vị trí ngoài hạch duy nhất (IE).

II          Tổn thương từ 2 vùng hạch trở lên cùng 1 phía cơ hoành, hoặc tổn thương khu trú ở 1 cơ quan hay vị trí ngoài hạch (IIE) và 1 hay nhiều vùng hạch cùng 1 phía cơ hoành.

III        Tổn thương nhiều vùng hạch ở cả 2 phía cùa cơ hoành, có thể đi kèm với tổn thương ở lách (IIIS) hoặc cả 2 (IIIES).

IV        Tổn thương lan tràn 1 hay nhiều vị trí ngoài hạch có hoặc không có tổn thương hạch đi kèm.

Phân nhóm:

A: không có triệu chứng toàn thân.

B: có một trong những triệu chứng sau: sốt (> 38°C) và, hoặc ra mồ hôi về đêm và, hoặc sút cân > 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng.

​​​​​​​Phân loại Cotswold

  • Ra đời năm 1989, tại hội nghị Quốc tế diễn ra ở Cotswold – Anh, về cơ bản cũng giống phân loại của Ann Arbor, chỉ khác 1 số điểm sau:

Tiêu chuẩn đánh giá là có tổn thương lách hoặc gan có thể dựa vào 2 kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, không quan tâm đến thay đổi các xét nghiệm đánh giá chức năng gan.

CHẨN ĐOÁN MÔ BỆNH HỌC

Năm 1944 Jackson và Parker là những người đầu tiên đưa ra phân loại vi thể cho bệnh Hodgkin. Bệnh được chia thành 3 tip: u bán hạt, u hạt và sarcom. Phân loại này chủ yếu dựa vào tỷ lệ giữa tế bào ác tính và tế bào lành, tăng dần từ tip một đến tip ba tương ứng với thời gian sống giảm dần.

Năm 1956 Smetana và Cohen bổ sung thêm một típ xơ nốt vào phân loại trên

Năm 1963 Lukes và Butler dựa vào hình thái học và bệnh cảnh lâm sàng, nhận thấy rằng riêng tip u hạt có thể chia thành hai tip là hỗn hợp tế bào và xơ hoá lan tỏa.

Năm 1966, Tại Hội nghị Rye ỏ New York, phân loại Lukes được sửa đổi và gọi là phân loại Rye, chia Hodgkin thành 4 tip: Nhiều lymphô bào; xơ nốt; hỗn hợp tế bào và mất lymphô bào. Phân loại này đến nay cũng vẫn được sử dụng tại nhiều trung tâm.

Năm 1994, dựa vào nguyên lý trên bề mặt lymphô bào T và B có các thụ thể dành cho KN. Mỗi lymphô bào chỉ mang một loại thụ thể để có thể nhận biết chỉ một số ít KN phù hợp với chúng. Thụ thể bề mặt này được gọi là (phân tử cụm biệt hoá – cluster differentiation – CD). Hoá mô miễn dịch là sự kết hợp phản ứng miễn dịch và hoá chất để làm hiện rõ các kháng nguyên (KN) hiện diện trong mô. Các CD được dùng trong chẩn đoán bệnh Hodgkin là CD15, CD 20, CD30, CD43 và CD45

Bàng 2. Tổng hợp các phân loại

Jackson &

Parker              Lukes & Butler                     Rye                          REAL                           WHO

Bán hạt            Lymphô bào và mô     Nhiều lymphô bào      Thể nốt trội lymphô     Thể nốt trội lymphô

                        bào, nốt                                                                        bào                               bào

                        Lymphô bào và mô                                         Hodgkin kinh điển        Hodgkin kinh điển                                                                 Hodgkin kinh điển         Hodgkin kinh điển

                                                                                     giàu lymphô                  giàu lymphô

Thể hạt            Xơ nốt                           Xơ nốt                                    Xơ nốt                                       Xơ nốt

                        Hỗn hợp tế bào              Hỗn hợp tế bào          Hỗn hợp tế bào                           Hỗn hợp tế bào

Sarcom            Xơ hóa lan tỏa               Mất lymphô bào         Mất lymphô bào            Mất lymphô bào

Liên võng                                                                                                          Không phân loại

Với kỹ thuật này, nhóm nghiên cứu Lymphô Quốc tế đưa ra phân loại Real (viết tắt của Revised European American Lymphoma). Phân loại này cũng thống nhất với phân loại WHO của các nhà huyết học UT quốc tế. Điểm khác biệt của REAL và WHO với các phân loại trước đây là bệnh Hodgkin chỉ được chia ra thành hai nhóm chính: Hodgkin thể nốt trội lymphô bào (tương đương với típ 1 của Rye) và Hodgkin kinh điển (tương đương với 3 típ còn lại). Phân loại WHO thêm vào thể không phân loại được.

Tham khảo thêm

Top 3 kem trị mụn đầu đen tốt nhất mà bạn không thể bỏ qua

Tiêu chí vàng cho biết địa chỉ nâng cơ mặt ở đâu tốt

Đánh giá bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*